vantaibienVietnamcohoivathachthuc2
14 Th4 2020 16:20

Vận tải biển Việt nam, cơ hội đi cùng thách thức

Hiệu quả của vận tải biển tại Việt Nam là vô cùng lớn, chỉ đứng sau vận tải đường bộ, tính đến tháng 6/2019, đội tàu biển Việt Nam có 1.568 tàu (trong đó tàu vận tải 1.106 tàu) với tổng trọng tải khoảng 7,8 triệu tấn, đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN (sau Singapore, Indonesia, Malaysia) và thứ 30 trên thế giới.

Tình trạng vận tải biển tại Việt Nam hiện nay.

Việt Nam có vị trí địa lý quan trọng trong khu vực Chấu Á, nằm trong khu vực có mạng lưới vận chuyển hàng hóa bằng đường biển năng động vào bậc nhất trên thế giới. Mặt khác, với hơn 3.260km đường bờ biển. Việt Nam có tiềm năng rất lớn trong việc phát triển vận tải biển và các dịch vụ khác liên quan đến biển.

Về hệ thống cảng biển nước ta hiện nay có 39 cảng biển được chia thành 6 nhóm như sau:

  • Nhóm 1: Cảng biển phía bắc từ Quảng Ninh tới Ninh Bình.
  • Nhóm 2: Bắc Trung Bộ từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh.
  • Nhóm 3: Trung Trung bộ từ Quảng Bình đến Quãng Ngại.
  • Nhóm 4: Nham Trung bộ từ Bình Định đến Bình Thuận
  • Nhóm 5: Đông Nam Bộ
  • Nhóm 6: Đồng bằng sông Cửu Long

Các cảng biển được thiết kế chuyên dụng, phân định thành 3 loại:

  • Cảng tổng hợp quốc gia
  • Cảng địa phương ( có phạm vi hấp dẫn và chức năng phục vụ chủ yếu trong phạm vi địa phương đó)
  • Cảng chuyên dùng( phục vụ trực tiếp cho các cơ sở công nghiệp tập trung, hàng qua cảng có tính đặc thù chuyên biệt như dầu thô, than, quặng.

Hiện nay, tổng số bến cảng được công bố là 281 bến cảng với tổng công suất trên 550 triệu tấn/năm. Hệ thống cảng biển Việt Nam đã được đầu tư đồng bộ về cơ sở hạ tầng: cầu bến, phao neo, trang thiết bị bốc dỡ hàng hóa, phát triển cơ bản hoàn chỉnh. Dự báo, năm 2019, sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển Việt Nam ước đạt 308,8 triệu tấn, tăng 13% so với cùng kỳ năm 2018; hành khách qua cảng đạt 3,8 triệu hành khách, tăng 32% so với cùng kỳ năm 2018.

Về hệ thống tàu chở hàng tính đến tháng 6/2019 đội tàu biển Việt Nam có 1.568 tàu (trong đó tàu vận tải 1.106 tàu) với tổng trọng tải khoảng 7,8 triệu tấn, đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN (sau Singapore, Indonesia, Malaysia) và thứ 30 trên thế giới

Tuổi tàu bình quân của đội tàu Việt Nam hiện là 15,6 trẻ hơn 5,2 tuổi so với thế giới (20,8 tuổi). Cơ cấu đội tàu biển Việt Nam cũng phát triển theo hướng chuyên dụng hóa, đặc biệt, đội tàu container Việt Nam tăng trưởng khá tốt từ 19 tàu trong (năm 2013) lên 39 tàu (năm 2019).

Về khối lượng hàng thông qua cảng biển do đội tàu Việt Nam vận chuyển đạt 81,2 triệu tấn tăng 16% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khối lượng hàng container thông qua cảng của đội tàu biển Việt Nam đạt 1,2 triệu tấn tăng 5% so với cùng kỳ năm trước.

Liên tục 5 năm liên tiếp đứng trong danh sách trắng( các nước có ít tàu bị lưu giữ) của Tokyo Mou (tổ chức các quốc gia tham gia bản ghi nhớ Tokyo về hợp tác kiểm tra tàu tại các cảng biển khu vực châu Á – Thái Bình Dương).

Đội tàu mang cờ quốc tịch Việt Nam hiện đã đảm nhận được gần 100% lượng hàng vận tải nội địa bằng đường biển, trừ một số tàu chuyên dụng như hàng lỏng (LPG), xi măng rời… Hàng hóa vận chuyển nội địa chủ yếu là các mặt hàng gia dụng, lương thực, than, vật liệu xây dựng, thiết bị máy móc, container, xăng dầu, hàng hoá tổng hợp…,” 

Đối với vận tải biển quốc tế, đội tàu biển nước ta đang đảm nhận vận chuyển khoảng 7% thị phần và chủ yếu vận tải các tuyến gần như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, khu vực Đông Nam Á, đội tàu container Việt Nam hoạt động chủ yếu trên các tuyến vận tải ngắn Đông Nam Á và Đông Bắc Á, một số tàu hàng rời đã vận tải hàng hóa trên các tuyến châu Âu.

vantaibienVietnamcohoivathachthuc4

Cơ hội phát triển vận tải biển Việt Nam

Cơ hội đầu tiên đó chính là giá nhiên liệu, theo nghiên cứu của Tổ chức Vận tải biển Quốc tế và WB, chi phí nhiên liệu chiếm tới 50-60% tổng chi phí vận tải biển và khoảng 30% giá thành của hoạt động vận tải đường bộ. Do vậy kinh doanh dịch vụ vận tải biển, diễn biến giá giá nhiên liệu hoàn toàn có lợi,đặc biệt trong thời gian gần đây giá nhiên liệu luôn chuyển biến tích cực, có lợi cho kinh doanh vận tải biển ở Việt Nam.

Cơ hội thứ 2 đó là nhu cầu vận chuyển tăng, nhu cầu vận chuyển hàng hóa đóng container trong khu vực Châu Á tăng lên đáng kể. Theo dự đoán của các chuyên gia sẽ có 2/3 số lượng hàng hóa XNK của thế giới phải đi qua vùng biển Đông trong 5-10 năm tới. Ngoài ra, biển Đông sẽ thu hút số lượng lớn các nhà kinh doanh và khách du lịch di chuyển bằng tàu biển. Có thể nói nhu cầu vận chuyển luôn hiện hữu, trong xu hướng tăng của nhu cầu này việc tận dụng cơ hội này để phát triển dịch vụ, chất lượng vận tải đường biển là vô cùng quan trọng.

tinhhinhkinhdoanhbien

Cơ hội thứ 3 là tốc độ tăng trưởng XNK của Việt Nam được kì vọng duy trì ở mức cao với sự hỗ trợ từ “xu hướng Trung Quốc + 1” và các hiệp định FTA, TPP. Nhiều nước trên thế giới có xu hướng chuyển việc sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam do những căng thẳng chính trị, cũng như vấn đề môi trường, bản quyền cũng như chi phí nhân công tại Trung Quốc đang trở nên cao hơn so với các nước trong khu vực. Bên cạnh đó, khi hiệp định TPP và FTA được ký kết cũng sẽ thu hút được luồng vốn từ nước ngoài vào các lĩnh vực xuất nhập khẩu được hưởng lợi chính như: dệt may, thủy sản, linh kiện điện tử,…

Bốn là, siết chặt tải trọng phương tiện đường bộ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp vận tải biển, việc tăng cường quản lý hoạt động vận tải hàng hóa và vận tải hành khách bằng xe ô tô ngày càng nghiêm túc và siết chặt, việc siết chặt các phương tiện đường bộ đã làm cho giá cước vận chuyển tăng cao và buộc doanh nghiệp chuyển sang các phương tiện vận chuyển thay thế như đường biển, đường sắt…Mặc dù thời gian vận chuyển lâu hơn, nhưng giá cước vận chuyển đường biển chỉ bằng 40-50% vận tải đường bộ. Vận tải đường biển trở thành hình thức vận tải thay thế đầu tiên sau đường bộ.

Năm là, sự quan tâm từ phía Chính phủ, trong những năm gần đây chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm tới sự phát triển của XNK, đặc biệt là XNK đường biển. Việc tinh gọn, giảm tải các thủ tục hành chính, cũng như phát hành hệ thống hải quan điện tử, thủ tục kê khai thuế qua mạng… đồng thời với các hoạt động đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hàng hải, tiếp thu những tiến bộ khoa học công nghệ và kinh nghiệm phát triển vận tải của các nước tiên tiến như Hà Lan, Nhật Bản, Panama cũng là cơ hội lớn cho nền vận tải biển tại Việt Nam

Thách thức của vận tải biển

Ngành vận tải biển của Việt Nam vẫn còn thách thức khi năm 2018, đội tàu biển là hơn 1.600 tàu, nhưng thời điểm hiện tại con số đó giảm xuống còn 1.568 tàu. Việc số lượng tàu suy giảm là một vấn đề đáng lo ngại, bởi vì mục tiêu đáp ứng vận chuyển 100% sản lượng nội địa sẽ khó đạt được.

Nền kinh tế Việt Nam và thế giới có dấu hiệu phục hồi nhưng chưa bền vững và tốc độ tăng trưởng chưa cao. Nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu và rộng vào nền kinh tế thế giới chính vì vậy mà những diễn biến bất lợi trong kinh tế thế giới đều có ảnh hưởng tới tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam qua đó làm giảm nhu cầu vận chuyển, gây khó khăn cho các doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển. Giá nhiên liệu ảnh hưởng rất nhiều vào giá cước vận tải biển, đặc biệt trong bối cảnh chi phí nhiên liệu thay đổi liên tục, nhiều thay đổi có chiều hướng có hại tới vận tải biển, chính vì vậy đây cũng là bài toán kinh tế lớn mà các doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển cần phải nghiên cứu và có hướng giải quyết.

vantaibien2

Thách thức thứ 2 là các doanh nghiệp vận tải biển tại Việt Nam còn nhỏ lẻ, thiếu kiến thức, kinh nghiệm về vận tải và bảo hiểm.

Thứ ba, là chất lượng vận tải đường biển của các doanh nghiệp Việt Nam chưa cao do nhiều nguyên nhân như sự lạc hậu của đội tàu, yêu kém của hệ thống cảng và năng lực kinh doanh của bản thân các công ty vận tải Việt Nam có nhiều tàu trọng tải nhỏ, chất lượng kém, cao tuổi, dẫn tới chi phí vận hành cao…

Thứ tư là thị trường xuất nhập khẩu ở Việt Nam cũng như quốc tế luôn là thị trường có mức độ cạnh tranh cao, xu thế hợp tác liên minh của các công ty vận tải biến trên thế giới với kinh nghiệm lâu năm, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, năng lực của các công ty vận tải nước ngoài là một điều không thể phủ nhận, do vậy, các DN VN, nếu không có những đột phá trong kinh doanh thì khó lòng có thể cạnh tranh được. Thêm vào đó, để ứng phó với những khó khăn từ kinh tế thế giới như thiếu nguồn hàng, cước phí giảm, giá nhiên liệu không ổn định, các hãng tàu cũng như các công ty giao nhận trên thế giới đã tiến hành hợp tác hay hình thành các liên minh để tăng sức cạnh tranh, thâu tóm thị trường và do đó càng đẩy các DN trong nước vào tình thế hiểm nghèo, nhất là khi năng lực cạnh tranh còn thấp.

Tổng kết: Vận tải biển Việt Nam hiện nay đã đạt được nhiều thành tưu và có được nhiều cơ hội lớn để có thể phát triển mạnh mẽ hơn nữa, việc vận tải biển Việt Nam làm thế nào để tận dụng được hết cơ hội để vượt qua những thách thức đang là vấn đề rất quan trọng, cần nhiều sự nỗ lực hơn nữa của Chính phủ Việt Nam cũng như các doanh nghiệp kinh doanh vận tải đưỡng biển.

Goto Top