tinhhinhkinhdoanhbien3
14 Th2 2020 18:03

Tình hình khai thác cảng biến ở Việt Nam

Việt Nam có vùng biển rộng trên 1 triệu km2 gấp 3 lần diện tích đất liền cùng với bờ biển dài trên 3.260km với nhiều bán đảo, vũng vịnh kín sóng gió, độ sâu tự nhiên lớn, lại nằm trên con đường hàng hải nhộn nhịp nhất trên thế giới… cùng với những ưu thế tự nhiên cảng biển đã ra đời một cách tất yêu và gắn bó chặt chẽ với hoạt động sản xuất, đời sống của nhân dân và lịch sử Việt Nam, giữ gìn bỡ cõi của cha ông. cũng từ lợi thế về biển kinh tế khai thác cảng biển, vận tải biển đã hình thành và ngày càng có vai trò đặc biệt quan trọng với việc phát triển kinh tế biển và tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước.

Tổng quan về cảng biển tại Việt Nam hiện nay 

Cảng biển là khu vực bao gồm các vùng đất cảng và vùng nước cảng, được xây dựng kết cấu hạ tầng và lắp đặt trang bị cho tàu biển ra vào hoạt động để xếp dỡ hàng hóa, đón trả hành khách và thực hiện các dịch vụ khác. 

Theo quy mô và ý nghĩa cảng biển ở Việt Nam được phân thành: 

  • Cảng biển loại 1: là cảng biển đặc biệt quan trọng, có quy mô lớn phục vụ cho việc phát triển kinh tế- xã hội của cả nước hoặc liên vùng.
  • Cảng biển loại 2: là cảng biển quan trọng, có quy mô vừa phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội của vùng, địa phương.
  • Cảng biển loại 3: là cảng biển có quy mô nhỏ phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp.

Theo tính chất cảng biển được chia thành:

  • Cảng mở: là tàu biển được mở ra cho tàu biển nước ngoài ra vào hoạt động thương mại nhưng phải xin phép nước có cảng.
  • Cảng đóng: là cảng có tầm quan trọng về an ninh, quốc phòng, do đó nước có cảng không cho tàu nước ngoài ra vào hoạt động thương mại.

Theo địa lý, khu vực cảng biển được chia thành:

  • Nhóm 1: Nhóm cảng biển phía Bắc từ Quảng Ninh đến Ninh Bình.
  • Nhóm 2: Nhóm cảng biển khu vực Bắc Trung Bộ từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh.
  • Nhóm 3: Nhóm cảng khu vực Trung Trung Bộ từ Quảng Ninh đến Quãng Ngãi.
  • Nhóm 4: Nhóm cảng khu vực Nam Trung Bộ từ Bình Định đến Bình Thuận.
  • Nhóm 5: Nhóm cảng biển khu vực Đông Nam Bộ( bao gồm cả Côn Đảo và khu ực trên sông Soài Rạp thuộc tỉnh Long An)
  • Nhóm 6: Nhóm cảng biển khu vực Đồng Bằng sông Cửu Long( bao gồm cả đảo Phú Quốc và các đảo Tây Nam)

Theo công dụng cảng biển được chia thành:

  • Cảng thương mại tổng hợp: là các cảng bốc xếp nhiều loại hàng hóa khác nhau như hàng khô, hàng bách hóa, bao kiện, thiết bị, container.
  • Cảng chuyên dụng: Cảng phục vụ cho 1 mặt hàng mang tính chất riêng biệt như cảng dầu, cảng container, cảng than…tinhhinhkinhdoanhbien

Vai trò của cảng biển 

  • Đối với ngoại thương: Cảng là nhân tố tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển đội tàu buôn và cho phép không bị lệ thuộc vào sự kiểm soát của các nước khác. Ngoài ra cảng còn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển và giữ vững quan hệ thương mai với các nước khác.
  • Đối với công nghiệp: Cảng là nơi tác động rất quan trọng trong việc xuất nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên vật liệu để sản xuất.
  • Đối với nông nghiệp: tác động của cảng biển mang tính chất hai chiều, xuất khẩu lúa gạo nông sản, nhập khẩu phân bón, máy móc thiết bị phục vụ cho nông nghiệp, ngoài ra còn nhập khẩu thêm các nông sản từ nước khác.
  • Đối với nội thương: Cảng phục vụ việc xếp dỡ hàng hóa cho các phương tiện vận tải nội địa, vận tải ven biển, và vận tải quá cảnh, lưu thông hàng hóa giữa các khu vực là nhân tố tăng cường hoạt động của nhiều cơ quan kinh doanh và dịch vụ khác.
  • Đối với thành phố cảng: Cảng là tiền đề cho thành phố cảng trở thành các khu trung tâm công nghiệp lớn và tạo công ăn việc làm cho người lao động.

Các hoạt động khai thác cảng biển:

  • Xếp dỡ hàng hóa: Hoạt động xếp dỡ được thực hiện bằng các thiết bị cơ giới có tính chuyên dụng, một số cảng hiện đại xếp dỡ tại bãi có thể được thực hiện theo phương án tự động hóa trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại với hệ thống phần mềm quản lý và khai thác bãi.
  • Hoạt động lưu kho, bãi hàng hóa: Lưu kho bãi hàng hóa qua cảng cũng là chức năng quan trọng của cảng, để khai thác chức năng này, cảng chuẩn bị diện tích mặt bằng, áp dụng công nghệ quản lý và khai thác bãi khoa học để thực hiện tốt chức năng này phục vụ khách hàng. Các bãi của cảng thường được chia ra theo các tiêu thức khác nhau như: theo chiều hàng, theo chủ hàng, theo lượng hàng chứa trong container, theo kích thước container, theo đặc thù hàng hóa.
  • Hoạt động đóng rút hàng trong container tại kho CFS: container vận tải đa phương thức gồm 2 loại cont một chủ(FCL – Full Container Load), loại khác là cont chung chủ (LCL – Less than Container Load). Đối với trường hợp thứ 2 trước khi xuất tàu( đối với cont xuất) hoặc sau khi dỡ khỏi tàu (đối với cont nhập), cont sẽ phải qua kho CFS thực hiện công đoạn đóng và rút hàng container.
  • Hoạt động giao nhận hàng hóa: Hoạt động này liên quan trực tiếp đến dòng hàng hóa ra và vào cảng. Hoạt động giao nhận là công đoạn đầu tiên( hàng xuất) và công đoạn cuối cùng( hàng nhập) của toàn bộ quá trình hàng hóa tại cảng để xếp xuống tàu hay dỡ từ tàu. Hoạt động này được diễn ra ở cổng ra vào và tại khu giao nhận trong bãi. Để đảm bảo hàng hóa được giao nhận chính xác, an toàn và nhanh chóng, tại nhiều cảng cont trên thế giới đã áp dụng các công nghệ quản lý, khai thác, kiểm tra, kiểm soát tiên tiến tại cổng và khu vực bãi.
  • Hoạt động khá: Ngoài các hoạt động khai thác cơ bản trên, cảng cont còn có một số hoạt động như bảo dưỡng sửa chữa container, vận chuyển nội địa các hàng hóa theo yêu cầu của chủ hàng, cung ứng thực phẩm, nước ngọt, vệ sinh cont, vệ sinh tàu…

tinhhinhkinhdoanhbien3

Ảnh sưu tầm

Tình hình khai thác cảng biển ở Việt Nam hiện nay:

Theo đánh giá, sau 20 năm quy hoạch, bức tranh cảng biển Việt Nam đã có sự thay đổi mạnh cả về chất và lượng. Theo Cục Hàng hải Việt Nam hiện nay cả nước có 272 bến cảng, tổng chiều dài cầu cảng đạt 92,2 km với tổng công suất trên 550 triệu tấn/năm. Hiện đã hình thành các cảng biển lớn với vai trò là đầu mối phục vụ xuất nhập khẩu hàng hóa và tạo động lực phát triển toàn vùng như: Cảng biển Quảng Ninh, Hải Phòng gắn với vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc; cảng biển Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Dung Quất, Quy Nhơn gắn với vùng kinh tế trọng điểm miền Trung; cảng biển TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai gắn với vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam bộ; cảng biển Cần Thơ, An Giang gắn với vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long. Một số cảng biển đã và đang được đầu tư với quy mô hiện đại mang tầm vóc quốc tế như cảng biển Bà Rịa – Vũng Tàu, cảng biển Hải Phòng. Các cảng này đã và đang thực hiện vai trò cảng cửa ngõ quốc tế và đảm nhận chức năng trung chuyển.

Ngoài quy mô và quy hoạch hệ thống cảng biển Việt nam không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, xếp dỡ tại cảng biển, do đó hiệu suất , số lượng hàng hóa thông qua đường biển ngày một lớn mức tăng trưởng hàng năm lên tới 2 con số(giai đoạn 2000-2017 là 10,4%), riêng hàng container có mức tăng trưởng bình quân 13,4%/ năm. So với năm 2000, sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển Việt Nam năm 2017 đã tăng 6 lần về tổng hàng, từ 73 triệu tấn lên 442 triệu tấn và tăng 12,5 lần về hàng container. Tỷ trọng lượng hàng thông qua hệ thống cảng biển của phương tiện thủy nội địa đã tăng 11,5% trong giai đoạn 2016-2018.

Năm 2018, sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển Việt Nam ước đạt 524,7 triệu tấn (không bao gồm sản lượng hàng hóa quá cảnh không bốc dỡ), tăng 19% so với năm 2017; Hành khách qua cảng đạt 5,8 triệu hành khách, tăng 28,9%.

6 tháng đầu năm 2019, sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển Việt Nam ước đạt 308,8 triệu tấn (không bao gồm sản lượng hàng hóa quá cảnh không bốc dỡ), tăng 13% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, lượng hàng hóa container đạt hơn 9,1 triệu Teus, tăng 3%. Số lượng hành khách qua cảng đạt 3,8 triệu hành khách, tăng 32%.

Những dịch vụ cảng biển ngày càng hoàn thiện, thủ tục hành chính cho tàu biển không ngừng được  cải thiện, rút ngắn thời gian chờ đợi tàu. Lượng hàng hóa thông qua cảng biển tăng trưởng ở mức cao đều qua các năm đã góp phần giảm tải cho đường bộ, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, hỗ trợ doanh nghiệp trong lĩnh vực hàng hải, đồng thời góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội tại các địa phương.

Với nhiều khởi sắc về mặt đầu tư và phát triển, song theo đánh giá chung của các chuyên gia, sự phát triển hệ thống cảng biển của Việt Nam hiện chưa thực sự tốt: Hệ thống cảng biển còn phân tán, manh mún; Cơ sở hạ tầng giao thông, các khu công nghiệp chưa phát triển đồng bộ với hệ thống cảng biển; Công nghệ thông tin còn yếu, máy móc còn lạc hậu, chưa tối ưu năng lực xếp dỡ; Chất lượng dịch vụ hải quan còn hạn chế, chi phí thông quan cao…

Cơ cấu cảng biển còn nhiều bất cập, thừa cảng nhỏ, thiếu cảng lớn, đầu tư chưa đúng trọng tâm, trọng điểm. Số liệu thống kê cho thấy, cả nước có 28 tỉnh có bờ biển thì có tới 272 cảng biển lớn nhỏ, tính trung bình mỗi tỉnh có gần 10 cảng, nhưng trong tất cả số cảng biển hiện có thì chỉ có khoảng 10 cảng là có đủ điều kiện tiếp nhận tàu trọng tải cỡ trung bình của thế giới.

Bên cạnh đó, theo thống kê, lượng hàng hóa thông qua cảng biển của Việt Nam tăng khoảng 10% -12%. Tuy nhiên, thị phần hàng hóa phân bổ giữa các cảng quá chênh lệch. Khu vực các cảng phía Bắc chiếm 25-30% khối lượng vận tải nên công suất vẫn còn thừa; các cảng miền Trung chiếm 13% đang ở tình trạng thiếu hàng hóa, chỉ sử dụng một phần công suất; còn các cảng phía Nam chiếm đến 57% – riêng container đến 90%, hiện đang quá tải. Nguyên nhân được biết đến là do vấn đề kết nối giữa cảng với các vùng kinh tế trọng điểm và việc trung chuyển mang tầm quốc tế tới vùng kinh tế trọng điểm còn hạn chế.

Cùng với đó, do ngành vận tải biển chưa thoát khỏi khó khăn, dẫn tới áp lực giảm giá cước từ các hãng tàu đối với các nhà khai thác cảng; Xu hướng nâng cao tải trọng tàu yêu cầu phát triển cảng nước sâu tại các khu vực, trong khi tiến độ triển khai chậm và hiệu quả chưa cao; Áp lực cạnh tranh giữa các cảng của Việt Nam với nhau và cạnh tranh với các cảng lớn thế giới, đặc biệt là các nước lân cận như Singapore và Trung Quốc… đã khiến sự phát triển của cảng biển Việt Nam còn đang đứng trước nhiều thách thức.

Kết luận:

Kinh doanh cảng biển ở Việt Nam đóng một vai trò vô cùng quan trọng, ngoài những cơ hội, sự cải thiện liên tục cũng còn vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Cần có những biện pháp tích cực hơn như hoàn thiện các quy hoạch cảng biển theo hướng tiến mạnh ra biển, giảm thiểu những hạn chế về luồng lạch và tiếp cận gần hơn với các tuyến hải trình quốc tế trên biển Đông, gắn kế việc đầu tư xây dựng cảng biển với xây dựng mô hình quản lý cảng tiên tiến để tối ưu hóa việc đầu tư khai thác cảng, đẩy mạnh kết nối hệ thống các cảng biển trong cả nước. Tăng cường chính sách phát triển hệ thống cảng biển phù hợp với xu thế phát triển… Qua đó, tiếp tục khẳng định tầm quan trọng cảu hệ thông phát triển kinh tế đất nước, giúp nước ta trở thành nước mạnh về biển, làm giàu từ biển mà định hưởng mở cửa thương mại và hội nhập hiện nay. 

Goto Top