logisticVietnam
13 Th2 2020 16:34

Logistics ở Việt Nam, cơ hội đi cùng thách thức.

Tại Việt Nam, trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới thì nhu cầu logistics ngày càng lớn và là một bộ phận cấu thành nên giá thành sản phẩm. Các công ty cung cấp logistics thì phải luôn chú trọng đến các yếu tố quan trọng của logistics là: Số lượng, chất lượng, thời gian và cuối cùng là giá cả dịch vụ. Các công ty logistics luôn phải đặt quy tắc JIT ( Just in time) làm ưu tiên.

Logistics Việt Nam – Thực trạng, cơ hội và thách thức

Theo nghiên cứu và đánh giá của Viện Nomura ( Nhật Bản), các doanh nghiệp logistics tại Việt Nam hiện chỉ đáp ứng được 1/4 nhu cầu thị trường logistics. Hiện đang có hai mức độ chệnh lệch phát triển trong kinh doanh giao nhận đó là: giữa các nhà giao nhận nước ngoài/liên doanh và các nhà giao nhận trong nước, giữa khu vực trong nội địa. Giá cả dịch vụ logistics Việt Nam tương đối rẻ nhưng dịch vụ không chắc chắn và các công ty giao nhận địa phương kém phát triển đã làm cho tình trạng trở nên khó khăn hơn khi chiếm lĩnh thị trường logistics trong nước

Những vấn đề của logistics Việt Nam

  1. Vấn đề đầu tiên cũng là vấn đề quan trọng nhất đó là vấn đề hạ tầng cơ sở logistics tại Việt Nam nói chung còn nghèo nàn, manh mún, bố trí chưa hợp lý. Các cảng chỉ có thể tiếp nhận các đội tàu nhỏ chưa được trang bị các máy móc kĩ thuật hiện đại trong việc bốc dỡ hàng. Khả năng bảo trì và phát triển đường bộ còn thấp, các đội xe tải chuyên dùng hiện đang lạc hậu, năng lực vận chuyển chưa được vận dụng hiệu quả do chưa có sự quy hoạch khoa học. Chưa đủ phương tiện vận chuyển đặc biệt vào mùa cao điểm.
  2. Vấn đề thứ hai là việc tổ chức, quản lý logistics còn chồng chéo. Các cơ quan chủ quản hiện nay đang giảm dần việc quản lý doanh nghiệp logistics trực thuộc mà tập trung vào việc lập ra chính sách, cơ chế quản lý nhà nước. Tuy nhiên, cơ chế phân cấp quản lý theo ngành theo hàng dọc như Bộ GTVT: Cục HHHVN quản lý vận tải biển, Cục HKDD quản lý vận tải đường không, Bộ Công Thương quản lý giao nhận và kho vận. Sự phân cấp tạo ra sự chồng chéo chức năng, chuyên biệt trong kinh doanh giao nhận và vận tải thành hai lĩnh vực kinh doanh khác nhau, mặc dù 2 lĩnh vực có mối quan hệ liên đới với nhau.
  3. Vấn đề thứ ba là vấn đề pháp luật. Luật thương mại Việt Nam quy động hoạt động logistics là hành vi thương mại, công việc chính là cung cấp các dịch vụ phục vụ vận tải hàng hóa, tổ chức vận chuyển nhưng khi đảm nhận việc vận chuyển phải tuân theo pháp luật về vận chuyển. Tuy nhiên, hiện nay luật chưa cụ thể hóa rõ ràng những chức năng của từng loại hình dịch vụ hay việc cấp phép hoạt động cho các công ty tư nhân của chính quyền địa phương lại được thực hiện đại trà mà chưa xem xét kĩ khả năng tài chính, cơ sở vật chất của đơn vị xin phép hoạt động. Các quy định về dịch vụ chuyển phát nhanh hiện nay còn coi là dịch vụ bưu điện chứ chưa được coi là một loại hình logistics và còn chịu sự điều tiết của các nghị định, thông tư về bưu chính, viễn thông. Ngoài ra có nhiều thủ tục thông quan khó khăn, phức tạp, Đây là điều thiếu sót và còn bất hợp lý. Chính những điều vậy làm  kìm hãm sự phát triển của logistics, gây khó khăn và phát sinh thời gian, chi phí.
  4. Thứ ba là vấn đề nguồn nhân lực cho các hoạt động logistics, hiện nay đang thiếu trầm trọng. Theo ước tính, nếu chỉ tính hội viên của VIFFAS thì tổng số khoảng 12.000 người. Đây là lực lượng chuyên nghiệp, ngoài ra ước tính khoảng 18.000 – 20.000 người thực hiện bán chuyên nghiệp. Nguồn nhân lực được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau. Đội ngũ nhân viên nghiệp vụ, phần lớn tốt nghiệp đại học nhưng không chuyên. Đội ngũ công nhân lao động trực tiếp đa số trình độ học vấn thấp, chưa được đào tạo tác phong làm việc chuyên nghiệp, phương tiện lao động còn lạc hậu, chưa có sự chuyên môn hóa.
  5. Vấn đề thứ năm là về quy mô của các tổ chức logistics ở Việt Nam: Nhìn lại các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải, giao nhận kho vận ở Việt Nam hiện nay, xét về quy mô của công ty hiện nay chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có những công ty rất nhỏ, vốn đăng kí ít, hoạt động tản mạn, manh mún. Các doanh nghiệp của nhà nước đang được cổ phần hóa, tuy nhiên tốc độ còn chậm chưa đáp ứng được và đang đi ngược với quy luật “tích tụ vốn”. Chính vì vậy có những doanh nghiệp ở Việt Nam dù đã tham gia kinh doanh lĩnh vực logistics trên 30 năm nhưng vẫn chưa có đủ năng lực để tham gia cung ứng dịch vụ logistics hoặc cung ứng dịch vụ vận tải tổng hợp tại nước ngoài mà chủ yếu chỉ cung cấp những dịch vụ nhỏ lẻ, không yêu cầu quá cao. Vì chúng ta chưa thể mở rộng việc cung ứng dịch vụ ra nước ngoài nên chúng ta đang mất dần thị phần trong nước.
  6. Cuối cùng là vấn đề trình độ công nghệ logistics, theo đánh giá trình đồ công nghệ trong logistics ở Việt Nam so với thế giới vẫn còn yếu kém. Việc liên lạc giữa công ty giao nhận, logistics với khách hàng, hải quan chủ yếu là thủ công, giấy tờ, mặc dù đã phát triển quy trình thông quan điện tử, chứng từ điện tử… tuy nhiên vẫn chỉ dừng lại ở mức cơ bản, chưa thể chuyên môn hóa, tự động hóa hết các công việc để đảm bảo tiết kiệm thời gian nhất. Mạng lưới cơ sở vật chất, tổ chức của các hình thức còn riêng lẻ, chưa kết hợp và quản lý một cách hiệu quả được. Phương tiện vận tải còn lạc hậu, cũ kỹ nên năng suất lao động thấp. Công tác lưu kho còn lạc hậu.

logistic_VietNam

Ảnh sưu tầm 

Cơ hội phát triển và thách thức

Nghiên cứu của các nhà kinh tế học cho thấy, chi phí logistics chiếm 10% giá trị buôn bán của hàng hóa lưu thông trong nước và chiếm 40% với việc hàng hóa mua bán trên thị trường quốc tế. Trong khi đó Việt nam có rất nhiều lợi thế để phát triển ngành công nghiệp logistics, làm tăng GDP cho đất nước. Việt Nam có nhiều cơ hội phát triển hơn các nước khác trong khu vực do:

  1. Thứ nhất là chính sách hội nhập, Việt Nam đang đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế thông qua những cải cách về cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính, xây dựng hệ thống phát luật kinh tế và tài chính phù hợp với thông lệ quốc tế.
  2. Thứ hai là lợi thế khu vực, Việt Nam có vị trí địa lý rất thuận lợi cho việc vận tải quốc tế, năm ở khu vực chiến lược trong vùng Đông Nam Á, bờ biển dài hơn 2000km, có nhiều cảng nước sâu, các sân bay quốc tế, hệ thống đường sắt xuyên quốc gia và mạng lưới giao thông và tiền đề khả quan để phát triển logistics.
  3. Thứ ba, vốn đầu tư nước ngoài cụ thể là nguồn vốn ODA nhằm phát triển cơ sở hạ tầng và các nguồn vốn từ các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ cho Việt Nam ngày càng tăng.
  4. Thứ tư là nhà nước Việt Nam đang quan tâm phát triển, hoạt động logistics đã bắt đầu thu hút nhiều sự chú ý của các cấp quản lý nhà nước cũng như các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
  5. Cuối cùng là sự phát triển của công nghệ thông tin, Việt Nam được đánh giá là một quốc gia có tốc độ phát triển công nghệ nhanh trên thế giới, liên tục cập nhật với nguồn lực  kĩ sư công nghệ cao và chất lượng. Đây chính là một trong những điều kiện tiên quyết để ngành công nghiệp logistics Việt Nam phát triển, đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế.

Với những cơ hội như vậy, Việt Nam trong tương lai không xa, ngành dịch vụ cung cấp logistics sẽ trở thành ngành kinh tế quan trọng có thể đóng góp tới 25% GDP của cả nước. Để tận dụng cơ hội và khắc phục những khó khăn chính phủ Việt Nam cần có những biện pháp, chính sách quan tâm hơn nữa tới lĩnh vực quan trọng và vô cùng phát triển này, mục tiêu xây dựng Việt Nam thành một trung tâm trung chuỷen hàng hóa và phân phối quốc tế, với hệ thống logistics thông m inh, khoa học.

Những giải pháp phát triển

Để phát triển ngành logistics hiện nay, việc quan trọng nhất là tạo cơ sở hạ tầng liên hoàn, tạo điều kiện thuận lợi, chính sách, hệ thống, pháp luật tinh gọn, cải cách nhanh chóng và toàn diện nguồn tài nguyên cho ngành như cảng, sân bay, cảng thông quan nội địa, đường bộ, đường sắt, kho bãi, trang thiết bị và các định chế có liên quan như thuế, bảo hiểm, ngân hàng, môi tường.

Các cơ sở vật chất , nguồn tài nguyên phải được bố trí khoa học, sắp xếp hợp lý với quy hoạch liên hoàn, có khả năng kết nối, tương tác và hỗ trợ qua lại lẫn nhau một cách hiệu quả. Cần đầu tư và nâng cấp để cải thiện và mở rộng hạ tầng giao thông vận tải, khuyến khích vận tải container bằng nhiều đường, chú trọng đầu tư và mở rộng hệ thống cầu cảng đặc biệt là cảng nước sâu trung chuyển trong các khu vực.

Đầu tư đa dạng hóa các dịch vụ vận tải, đảm bảo bất kì công ty vận chuyển nào cũng có thể đảm nhiệm được hết các công việc xuyên suốt quá trình tư việc đóng gói hàng hóa, phân loại hàng hóa, cung cấp dịch vụ kiểm kê phân phối hàng hóa đến đúng địa điểm tiếp nhận.

Đẩy mạnh việc sử dụng công nghệ thông tin hơn nữa trong hoạt động logistics, hoàn thiện toàn diện công nghệ logistics trong quản trị chuỗi cung ứng (supply chain management – SCM), sử dụng hệ thống Smart logistics để vận chuyển, phân phối và lưu kho hàng hóa đảm bảo cung cấp tới hàng hóa tới khách hàng trong thời gian sớm nhất.

Đào tạo nguồn nhân lực trẻ ở Việt Nam về ngành logistics, chương trình đào tạo phải được cập nhật thường xuyên và đổi mới.

Kết luận:

Logistics ở Việt Nam có vô cùng nhiều cơ hội nhưng kèm theo đó là những thách thức cần phải được khắc phục,c ải thiện và đổi mới. Phát triển ngành logistics là nhiệm vụ hết sức cần  được chú trọng trong thời gian tới. Những hệ thống logistics thông minh, tinh gọn sẽ đóng góp rất lớn vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam và cơ hôi vươn ra hội nhập với thế giới.

 

Goto Top